Tự hào truyền thống cách mạng Tà Lài - Tiếp bước cha anh, dựng xây đất nước!

Địa điểm ghi dấu sự kiện vượt ngục Tà Lài

Thứ bảy - 21/03/2026 11:33
  • Xem với cỡ chữ 
  •  
  •  
  •  
Ngày 27-3/2026, chính thức tròn 85 năm diễn ra sự kiện vượt ngục Tà Lài (27-3-1941 - 27-3-2026).
633365548 1304775995016485 320534710005243479 n

Bối cảnh hình thành nhà tù Tà Lài
Biên Hòa là một trong ba tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ (cùng với Gia Định, Định Tường) được triều đình nhà Nguyễn cắt nhượng cho Pháp sau Hiệp ước năm 1862. Trong thời kỳ Pháp thuộc, tỉnh Biên Hòa là địa bàn có phong trào kháng chiến chống Pháp mạnh mẽ dưới nhiều hình thức như khởi nghĩa vũ trang do các bậc sĩ phu lãnh đạo (cuối thế kỷ XIX), tổ chức Hội kín (đầu thế kỷ XX) và đấu tranh công nhân (từ năm 1930 trở đi). Năm 1939, chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, tác động mạnh mẽ đến Pháp và thuộc địa của Pháp ở Đông Dương. Phong trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam phát triển mạnh với nhiều xu hướng, đặc biệt sự tác động lớn của Đảng Cộng sản. Nhằm đàn áp phong trào cách mạng, chính quyền thực dân thi hành chính sách thời chiến, phát xít hóa bộ máy thống trị, thủ tiêu quyền tự do, dân chủ của người dân Việt Nam.
Thực hiện chính sách khủng bố, ngoài hệ thống nhà tù đã thiết lập trước đây trên Nam Bộ, chính quyền thực dân xây dựng, thiết lập một số trại giam, nhà tù ở các vùng miền núi để giam cầm đặc biệt, cô lập những người yêu nước, đảng viên cộng sản nhằm từng bước hạn chế dẫn đến làm tiêu diệt phong trào đấu tranh cách mạng.
Nhà tù Tà Lài được hình thành trên cơ sở cơ quan đặc biệt tại vùng người dân tộc thiểu số ở đông bắc của tỉnh Biên Hòa. Nơi chúng ta đang đứng đây, trước đây là địa bàn rừng núi bạt ngàn, vùng người dân tộc thiểu số sinh sống, biệt lập với vùng đồng bằng và đô thị. Từ km 125 trên Quốc lộ 20, có một con đường đá nhỏ hẹp, hai bên cỏ cây dày đặc, đá tảng gập ghềnh, không có cư dân. Trên một diện tích đất trống khoảng 7 đến 8 ha có ba khung nhà trệt làm bằng gỗ, mái lợp ngói. Đây là nơi dùng để quân Pháp và lính khố xanh được phân công canh giữ nhà tù ở. Trong phạm vi nhà tù, có một nhà bếp và trạm y tế làm bằng tranh tre đơn giản. Một trại dài làm bằng tre, gỗ và mái lợp tranh được dùng làm nơi ở của các người bị bắt đưa lên giam ở Tà Lài. Diện tích của trại này chứa khoảng từ 50 đến 70 người. Sau này, số người tù bị đưa lên đây càng nhiều nên những tù nhân làm thêm những dãy nhà trại khác. Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (23-11-1940 đến ngày 31-12-1940) thất bại, nhà tù Tà Lài có khoảng 500 người bị giam. Chung quanh khu nhà tù có hàng rào dây kẽm bằng gai bao bọc, nhiều cây cối nhỏ và vừa mọc chung quanh, um tùm. Bên phải khu nhà tù là một bến sông. Cách nhà tù khoảng từ 2, 3 km có làng của người dân tộc thiểu số sinh sống.
Chính quyền thực dân gọi là Trại giam Tà Lài Camp des travailleurs Talai. Cách gọi thông dụng là Căng – xuất phát từ chữ Camp của tiếng Pháp. Những nhân chứng tại Nhà tù Tà Lài thường gọi là “Căng Tà Lài – Trại Lao động đặc biệt” – cách dùng của đồng chí Trần Văn Giàu trong Hồi ký.
Về đối tượng giam và cách thức quản lý nhà tù Tà Lài
Nhà tù Tà Lài là nơi giam giữ những người yêu nước, đảng viên cộng sản. Trong đó có nhiều người đã tham gia các tổ chức yêu nước, đặc biệt các tổ chức Đảng cộng sản, hoạt động dân chủ, từng hoạt động ở Nam Bộ, bị kêu án, bắt giam trước đây và có ảnh hưởng lớn đối với phong trào đấu tranh cách mạng, xã hội. Chính quyền thực dân xếp họ vào hạng đối tượng “nguy hiểm”.
Chính quyền thực dân cho rằng, tù nhân bị giam tại Tà Lài không có điều kiện để trốn thoát cũng như sử dụng họ như một dạng lao động khổ sai. Quản lý Nhà tù Tà Lài cho rằng: với địa thế hoàn toàn biệt lập, Tù nhân nếu có trốn thoát thì sớm muộn gì cũng bị lạc trong rừng rú sâu thẳm trở thành miếng “mồi” ngon cho thú dữ hoặc bị thiếu đói mà chết… Sự khắc nghiệt nơi đây, còn được đồng chí Dương Quang Đông kể lại: “Nếu không bị thú rừng ăn thịt, thì cũng bị lũ vắt hút cho cạn máu, chưa kể cơn đói khát luôn thường trực vì lạc trong rừng sâu cả tháng trời”. Tháng 5 năm 1940, Nhà tù Tà Lài tiếp nhận một đợt tiếp nhận tù chính trị đặc biệt, trong đó có những người từng bị chính quyền thực dân bắt giam trước đó nhiều lần, hoạt động trong các tổ chức cộng sản, như: Trần Văn Giàu, Dung Văn Phúc (Dương Quang Đông), Tào Văn Tỵ, Nguyễn Công Trung, Trần Văn Kiệt, Nguyễn Văn Đức, Trương Văn Nhâm, Tô Ký, Châu Văn Giác…
Lính canh gác tại Nhà tù Tà Lài có nhiệm vụ bảo vệ và canh gác cẩn mật tù nhân trong các sinh hoạt. Ngoài sự bố phòng có tính chất giam giữ của một Nhà tù – Trại giam – Căng lao động với hàng rào dây kẽm gai, từng đội lính được phân công quản từng trại, đi tuần chung quanh, áp tải và giám sát những tù nhân trên các công trình lao động. Buổi tối, kiểm tra chặt chẽ từng chỗ ngủ của các tù nhân; đặc biệt với những người được liệt vào hạng “cựu phạm chính trị quan trọng”.
Các người tù bị giam giữ nơi đây buộc phải tuân thủ các nội quy về sinh hoạt và tham gia lao động. Ngay trong các đợt đầu lên Nhà tù Tà Lài, các tù nhân phải vào rừng chặt cây, cắt lá về làm trại cho chính bản thân họ ở. Những công việc tù nhân thường bị bắt làm như: Vào rừng đốn gỗ, chặt tre, đan ky, xeo đá, đắp đất làm đường. Là những chính phạm đặc biệt, có tinh thần đấu tranh mạnh mẽ, không sợ hy sinh, có tinh thần đoàn kết nên các tù nhân tại đây đã phản ứng lại sự hà khắc của quản lý Nhà tù và làm cho chúng không dám lộng hành. Thông qua công việc tuyên truyền về lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, lý tưởng cộng sản của các đảng viên nên nhiều người lính tại Nhà tù Tà Lài đã không áp dụng chính sách kỷ luật nghiêm ngặt. Bên cạnh đó, nhiều tù nhân là các tri thức từng du học ở Pháp, có kiến thức, thẳng thắn trao đổi, đấu tranh nên chiếm được sự cảm tình của quản lý Nhà tù, tạo nên một số thuận lợi cho việc sinh hoạt, công việc.
Nói thêm về sự kiện vượt ngục Tà Lài (diễn ra vào ngày 27/3/1941 - cách đây 85 năm): Trong thời gian bị giam cầm tại Tà Lài, những đảng viên cộng sản trong nhà tù đã thành lập Tổ chức Đảng. Nhằm vừa tôi luyện cho bản thân, đoàn kết, duy trì hoạt động và tuyên truyền về chủ nghĩa yêu nước, lý tưởng cách mạng. Tổ chức Đảng được thành lập tại Nhà tù Tà Lài với hình thức gọi là Ban lãnh đạo do toàn thể trại viên bầu lên. Mỗi trại trong nhà tù có hai người đại diện trong Ban lãnh đạo. Tổng đại diện của Ban Lãnh đạo là đồng chí Trần Văn Giàu. Nhiệm vụ của Ban được phân công với các nhiệm vụ cụ thể: Đảng ủy viên chuyên lo việc huấn luyện chính trị tư tưởng, tổ chức lực lượng nòng cốt, liên lạc với bên ngoài, công tác dân vận đối với đồng bào Mạ X’tiêng, công tác binh vận đối với lính khố xanh (có nghĩa là công tác vận động quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng mà cụ thể ở đây là vận động lực lượng “lính tập” - các đơn vị quân đội bản xứ do người Pháp tổ chức thành lập nhằm phụ trợ cho quân chính quy Pháp trong chiến tranh).
Sống trong cảnh bị giam cầm ở nhà tù Tà Lài, nhiều người đã nuôi ý chí vượt ngục để trở về với tự do và các chiến sĩ cộng sản đã cùng với tổ chức Đảng tại nhà tù Tà Lài lên kế hoạch tổ chức hai lần vượt ngục theo nhóm nhỏ.
Lần thứ nhất gồm ba đồng chí: đồng chí Khước (người Mỏ Cày), đồng chí Minh (người Long Hồ) và đồng chí Khuy. Ba đồng chí đã dùng thuyền thả xuôi dòng sông và đi trót lọt. Thế nhưng, sau khi vượt ngục thành công, tổ chức Đảng ở Nhà tù Tà Lài không nhận được tin tức.
Do đó, tổ chức Đảng tại nhà tù Tà Lài đã lên kế hoạch vượt ngục lần thứ hai một cách kỹ càng và khẩn trương: Nhóm vượt ngục gồm 8 người: Trần Văn Giàu, Tô Ký, Châu Văn Giác, Dung Văn Phúc (tức Dương Quang Đông), Trần Văn Kiệt (còn có tên thường gọi là Văn), Nguyễn Văn Đức (còn có tên Nguyễn Hoàng Sính), Nguyễn Công Trung, Trương Văn Nhâm.
Trước lúc đi, đồng chí Trần Văn Giàu còn để lại lá thư cho tên chủ ngục với hàm ý: “Chúng tôi ra đi không phải vì chế độ hà khắc của nhà tù, cũng không phải vì cha già mẹ yếu, vợ dại con thơ. Mà chúng tôi ra đi với trách nhiệm cao cả khi Tổ quốc bị xâm lược…”.
Để đánh lạc hướng địch, dưới sự hỗ trợ của đồng bào dân tộc, anh em lấy 2 chiếc thuyền gỗ đã để sẵn ở bờ sông rồi chèo lên thượng nguồn sông Đồng Nai. Nhóm không xuôi dòng để ra sông La Ngà về Biên Hòa mà băng ngược về phía Đà Lạt. Sau 3 ngày gian nan ngược sông, đoàn đã tới một nhánh của sông Đồng Nai. Tuy nhiên, trước tình thế phải đối đầu với đàn cá sấu hung dữ, anh em quyết định bỏ thuyền và tiếp tục băng rừng.
Trong quá trình truy bắt, chính quyền thực dân cũng huy động những người dân tộc thiểu số trong vùng vốn thông thạo địa hình để bắt giữ các chiến sĩ vượt ngục đem về giao nộp với lời hứa sẽ phát thưởng hậu hĩnh. Tuy nhiên, cơ sở cách mạng đã làm công tác tuyên truyền, vận động từ trước nên đồng bào vẫn một lòng kiên trung với cách mạng.
Gần chục ngày vượt rừng sâu, trong khi ai nấy đều rệu rã, cạn sức thì cũng là lúc nghe được tiếng còi xe hơi trên hướng quốc lộ 20. Từ đó, mọi người cứ xẻ rừng, hướng về phía phát ra âm thanh ấy mà đi. Ba ngày sau, tất cả đến được đường lớn. “Lúc này, chiếc xe Citroen chạy trờ tới rồi dừng lại, trên xe một người cất tiếng: “Nào anh em nghèo đâu?”, đúng là mật hiệu của quân ta đây rồi. Tất cả mừng tủi đến rơi nước mắt. Chiếc xe thẳng tiến hướng Biên Hòa, đưa anh em về lại Sài Gòn…” - đồng chí Dương Quang Đông thuật lại trong hồi ký.
Sau khi vượt ngục thành công, các đồng chí trong nhóm vượt ngục bằng nhiều cách trở về các địa bàn hoạt động trước đây, gây dựng, móc nối, liên lạc với tổ chức Đảng để khôi phục phong trào cách mạng. Nhiều người trở thành hạt nhân nòng cốt và lãnh đạo cuộc nổi dậy Tổng khởi nghĩa giành chính quyền vào tháng Tám năm 1945 ở Nam Bộ.
Theo già làng K’Lư dân tộc X’tiêng lúc còn sống kể lại. Thời điểm ấy thanh niên, đàn ông trong làng thường xuyên bị bọn xâm lược bắt đi lao dịch, làm việc khổ sai. Hàng ngày, người dân nơi đây còn chứng kiến cảnh chúng bắt gà, bắt heo của dân làng khiến ai cũng nổi lên lòng oán hận, khắp các buôn làng người dân tộc Châu Mạ, luôn sôi sục khí thế chống thực dân Pháp. Dù quân địch luôn tìm cách mua chuộc, lôi kéo, nhưng bà con ở Tà Lài vẫn một lòng theo cách mạng với phương châm “cơm không ăn hai nồi, người không ở hai lòng”. Từ đó đồng bào chẳng những ủng hộ lúa gạo mà còn động viên chồng, con đi làm cách mạng.
Nhà tù Tà Lài do chính quyền thực dân thiết lập ở Tà Lài bỏ hoang từ năm 1954 khi Pháp rút khỏi Việt Nam. Do tác động của nhiều yếu tố, nhà tù Tà Lài bị hư hoại, không để lại dấu vết. Sau ngày đất nước thống nhất, chính sách của chính quyền cách mạng đã làm đổi thay vùng Tà Lài với diện mạo của một vùng nông thôn mới có đông đảo cư dân sinh sống. Cảnh quan của một “Trại giam đặc biệt” của Pháp đối với những chính trị phạm một thời đã thay đổi nhiều. Các địa điểm định canh, định cư của người X’tiêng, Châu Mạ ở vùng Tà Lài được hình thành.
Năm 2000, nhân dịp kỷ niệm 110 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; Ủy ban nhân dân huyện Tân Phú (cũ) đã xây Bia ghi dấu Sự kiện vượt nhà ngục Tà Lài và tôn tạo cảnh quan trên một diện tích 580 m2. Địa điểm là một khu đồi có độ cao vừa phải, nằm tả ngạn sông Đồng Nai tại ấp 3 xã Tà Lài. Tấm bia kỷ niệm đặc biệt này có diện tích 32m2 và được làm hoàn toàn bằng đá tảng lớn nên mặc gió bão mưa giông thì vẫn đứng hiên ngang ở đó. Trên tấm bia được khắc dòng chữ: “Ngày 27/3/1941 được sự giúp đỡ của đồng bào, tám Đảng viên cộng sản (ông Dương Quang Đông, ông Trần Văn Giàu, ông Trần Văn Kiệt, ông Trương Văn Nhâm, ông Nguyễn Văn Đức, ông Tô Ký, ông Châu Văn Giác) đã vượt ngục về với cách mạng, trở thành những nhân tố, nòng cốt củng cố Xứ ủy Nam Kỳ góp phần quan trọng trong thắng lợi cách mạng giải phóng miền Nam và xây dựng bảo vệ Tổ quốc”.
Phù điêu trên kiến trúc Bia khắc họa những hình ảnh sinh hoạt, lao động của những người bị giam giữ tại Nhà tù Tà Lài dưới sự cai quản, canh gác của cai ngục, quân lính; hội họp bí mật của đảng viên trao đổi, bàn bạc kế hoạch vượt ngục, quá trình vượt ngục của các đảng viên với sự giúp đỡ của người đồng bào thiểu số khi vượt sông Đồng Nai.
Sự kiện vượt ngục Tà Lài đêm 27-3-1941 có ý nghĩa quan trọng, phản ánh tinh thần bất khuất, kiên cường, đấu tranh anh dũng của các chiến sĩ cộng sản; đồng thời, thể hiện ý chí và tinh thần quyết đấu tranh để bảo vệ độc lập dân tộc. Dù trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào các chiến sĩ cộng sản luôn đoàn kết một lòng, tìm cách vượt ngục về với Đảng, với Nhân dân để được tiếp tục chiến đấu; biến nhà tù thành trường học cách mạng, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Bia ghi dấu sự kiện vượt ngục Tà Lài là một công trình kiến trúc độc đáo, phản ánh truyền thống đấu tranh hào hùng của quân dân Đồng Nai nói riêng, Nam Bộ nói chung dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là “Địa chỉ Đỏ” góp phần trong việc tuyên truyền, giáo dục về tinh thần yêu nước có ý nghĩa thiết thực đối với mọi người; đặc biệt với thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, ngày 12-3-2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai ra Quyết định 815/QĐ-UBND công nhận Địa điểm ghi dấu sự kiện vượt ngục Tà Lài là Di tích lịch sử cấp tỉnh.

Tác giả: MTB

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây